CAO HUYẾT ÁP- Sát thủ thầm lặng đang giết chết bạn từng ngày. Xem để biết cách phòng tránh và điều trị

Cao huyết áp còn gọi là huyết áp cao và khái niệm thường dùng trong dân chúng là bệnh tăng xông (tension), là bệnh lý thường gặp trong cộng đồng và gia tăng theo tuổi. Bệnh chiếm 8-12% dân số. . Nếu bạn đang nghi ngờ bản thân hoặc những người thân trong gia đình mắc bệnh cao huyết áp thì bài viết này sẽ hữu ích đối với bạn.

Huyết áp là gì?

Huyết áp là áp lực gây ra trên một đơn vị diện tích huyết quản khi máu lưu thông trong huyết quản. Do huyết quản được phân chia thành động mạch, mao mạch và tĩnh mạch nên có huyết áp động mạch, huyết áp mao mạch và huyết áp tĩnh mạch.

chi so do huyet ap 1 1

Thông thường khi ta nói đến huyết áp thì đó là huyết áp động mạch.Huyết dịch (máu) trong huyết quản giống như nước máy. Nước gây áp lực trong ống nước giống như huyết dịch gây áp lực trong huyết quản. Áp lực của nước phụ thuộc vào dung lượng nước có trên tháp nước và đường ống lớn hay nhỏ. Nước trên tháp càng nhiều và đường ống càng nhỏ thì áp lực nước càng mạnh và ngược lại.

Huyết áp cũng vậy, khi huyết quản phồng lên thì huyết áp giảm, khi huyết quản co lại thì huyết áp tăng. Nhân tố ảnh hưởng đến huyết áp, tức là hệ thông điều tiết huyết áp động mạch, chủ yếu phụ thuộc vào dung lượng máu tăng hay giảm hoặc mạch máu co hay giãn, hoặc một hay cả hai nhân tố cùng diễn ra. Khi tim co mạnh để đẩy máu đi thì đó là lúc cao huyết áp nhất, được gọi là “áp cao”. Khi tim giãn ra để thu máu về, động mạch co lại cũng tạo ra áp lực, được gọi là “áp thấp”. Thông thường huyết áp được biểu thị bằng milimét thủy ngân (mmHg).

Huyết áp hình thành từ đâu?

Hệ thông tuần hoàn của cơ thể bao gồm tim, mạch máu và tuyến hạch, chúng liên kết với nhau thành “hệ thông đường ống” khép kín.

Quả tim bình thường là một khối cơ mạnh mẽ, giống như chiếc bơm, nó hoạt động đều đặn suốt đêm ngày.

Quả tim lúc co lúc giãn làm cho máu lưu thông tuần hoàn trong mạch máu. Khi máu lưu thông trong mạch máu, bất luận là tim co hay giãn đều tạo ra một áp lực nhất định lên thành mạch máu.

Khi tim co lại, áp lực đó với động mạch chủ đạt mức cao nhất, lúc đó huyết dịch được gọi là “áp cao”; khi tâm thất trái giãn ra, áp lực ở thành động mạch chủ hạ xuống mức thấp nhất, lúc đó gọi là “áp thấp”. Bình thường, cái mà ta gọi huyết áp chính là chỉ số đo huyết áp của động mạch ở hõm cánh tay, là cách đo gián tiếp huyết áp của động mạch chủ.Huyết áp thường biến động phụ thuộc vào chế độ ăn uống, đi đứng, lao động trí óc, lao động chân tay và trạng thái tâm lý của mỗi người.

Huyết áp tự điều tiết như thê nào?

Áp lực máu trong cơ thể khống phải cố định bất biến, mà nó thường tự thay đổi phụ thuộc vào chế độ ăn uống, đi đứng, lao động trí óc, lao động chân tay và trạng thái tâm lý của mỗi người.

Ví dụ:

  • Khi ta ngủ, đại não và các cơ ở trạng thái nghỉ ngơi, cơ thể ít tiêu hao năng lượng; theo đó, nhịp tim và nhịp thở đều giảm, máu lưu thông chậm, huyết áp cũng giảm đến mức thấp nhất trong ngày. Sáng sớm sau khi thức dậy, một ngày làm việc mới bắt đầu, hoạt động trao đổi chất lại nhộn nhịp; để thích ứng với sự thay đổi sinh lý đó, tim và phổi phải hoạt động mạnh hơn, máu lưu thông nhanh, do đó huyết áp tăng cao.
  • Khi ta nói chuyện, huyết áp có thể tăng 10%; trẻ con khi khóc, học sinh khi học bài, ca sĩ khi hát… huyết áp có thể tăng 20%; khi ta làm việc hoặc tập thể dục thì huyết áp (cả áp cao và áp thấp) đều có thể tăng từ 50% trở lên. Thời tiết thay đổi cũng làm cho huyết áp thay đổi, trời lạnh thường làm tăng huyết áp và trời nóng thì huyết áp giảm. Huyết áp của người sở dĩ thay đổi chủ yếu là do quá trình điều tiết của thần kinh điều khiển sự vận động của tim, mạch và thận lọc chất thải từ máu. Do đó, huyết áp dao động là một hiện tượng sinh lý bình thường.

Thế nào là cao huyết áp?

Cao huyết áp là trong trường hợp không dùng thuốc hạ huyết áp mà chỉ số khi tim co là là 140mmHg hoặc chỉ số khi tim giãn là 90mmHg, là bệnh lý thường gặp trong cộng đồng và gia tăng theo tuổi. Bệnh chiếm 8-12% dân số. Một số yếu tố gia tăng nguy cơ cao huyết áp như tiểu đường, thuốc lá, tăng lipid máu, gene di truyền.

Cao huyết áp là bệnh lý gây tử vong và di chứng thần kinh nặng nề như liệt nửa người, hôn mê với đời sống thực vật, đồng thời có thể góp phần vào cơn suy tim, thiếu máu cơ tim làm ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sống (khống cảm thấy khỏe khoắn, mất khả năng lao động) và gia tăng khả năng tử vong. Do đó điều trị cao huyết áp là vấn đề cần lưu ý trong cộng đồng vì những hậu quả to lớn của nó.

nguyen nhan cao huyet ap

Cao huyết áp có những loại nào?

Căn cứ vào nguyên nhân làm cho cao huyết áp, người ta chia cao huyết áp thành hai loại chính: cao huyết áp nguyên phát cao huyết áp thứ phát.

  • Cao huyết áp nguyên phát là cao huyết áp chưa rõ nguyên nhân, người ta quen gọi là bệnh cao huyết áp nguyên phát hoặc bệnh cao huyết áp. Đặc trưng của nó là huyết áp động mạch tăng cao, kèm theo những thay đổi khác thường ở tim, não, thận, mạch máu gây bệnh toàn thân. Theo thông kê có từ 90- 95% số người mắc bệnh cao huyết áp thuộc loại cao huyết áp nguyên phát. Trong bệnh tim mạch thì cao huyết áp nguyên phát là loại bệnh mãn tính thường gặp hơn cả.
  • Cao huyết áp thứ phát là loại bệnh phát sinh theo một số bệnh khác, khi chữa khỏi bệnh thì huyết áp sẽ hạ. Do đó, loại cao huyết áp này được gọi là cao huyết áp có tính triệu chứng, nó chỉ chiếm từ 5-10% trong tổng số những người mắc bệnh cao huyết áp. Những người mắc bệnh viêm thận mãn tính, hẹp động mạch thận khống có ung thư tế bào, chỉ có ung thư tế bào gan nguyên phát… đều xuất hiện triệu chứng cao huyết áp.

Những triệu chứng thường gặp ở những người mắc bệnh cao huyết áp

Biểu hiện lâm sàng của bệnh cao huyết áp cũng tùy theo người, tùy theo thời kỳ mắc bệnh khác nhau mà khác nhau.

  • Có một số người bệnh lúc đầu chẳng thấy có triệu chứng gì cả, có người có triệu chứng như bệnh thần kinh, nếu khống đo huyết áp rất dễ nhầm lẫn. Điều cần đặc biệt chú ý là triệu chứng của người bệnh khống phụ thuộc vào cao huyết áp hay thấp.
  • Có người huyết áp khống cao lắm nhưng xuất hiện nhiều triệu chứng, có người huyết áp rất cao nhưng triệu chứng khống rõ ràng. Triệu chứng thường thấy ở người mắc bệnh cao huyết áp là nhức đầu, chóng mặt, nặng đầu, buồn ngủ…
  • Có một số người có triệu chứng tê chân tay hoặc có cảm giác buồn bực, cũng có người có cảm giác như kiến bò trên người hoặc bàn chân, dễ có phản ứng khi bị lạnh…

Nhưng nhìn chung có 3 triệu chứng thường gặp ở bệnh cao huyết áp:

Xuất huyết não, triệu chứng thứ nhất của bệnh cao huyết áp

Xuất huyết não, trong dân gian gọi là “trúng gió” hay “trúng phong”. Lâm sàng gọi xuất huyết não, chết não và thiếu máu não cấp là TIA. Những triệu chứng thường gặp gồm: chân tay thiếu cảm giác, vận động khó khăn, tư duy ngôn ngữ kém, giảm trí nhớ, nhìn khống rõ nét… Người bị trúng gió là một gánh nặng đối với gia đình. Nguyên nhân gây trúng gió phần lớn do huyết áp biến động mạnh, thiếu máu não cấp và nhiều nguyên nhân khác. Lao động quá sức, tâm trạng bị kích động mạnh, ăn uống khống hợp lý, dùng sức quá mạnh, thời tiết thay đổi, uống nhiều rượu, tức giận… đều là những nhân tố có liên quan đến huyết áp biến động và xơ vữa động mạch.

Nhồi máu cơ tim, triệu chứng thứ hai của bệnh cao huyết áp

Nhồi máu cơ tim là một triệu chứng chủ yếu có hại cho sức khỏe con người, bởi có nhiều nguyên nhân gây tổn hại tế bào bên trong động mạch tim dẫn đến xơ vữa động mạch tim, làm cho nó bị hẹp và tắc. Triệu chứng lâm sàng của nó là đau thắt tim và đờ cơ tim. Tỷ lệ nhồi máu cơ tim rất cao và rất nghiêm trọng ở những người mắc bệnh cao huyết áp.

Bệnh thận, triệu chứng thứ ba của bệnh cao huyết áp

Thận là cơ quan bài tiết chủ yếu của cơ thể, máu nhờ tiểu cầu thận lọc chất thải để bài tiết ra ngoài. Lâm sàng có nhiều loại bệnh gây hại cho thận như bệnh cao huyết áp, tiểu đường, bệnh viêm do virus, bệnh về hệ thông miễn dịch… Khi huyết áp cao sẽ làm cho một bộ phận động mạch nhỏ và mao mạch ở thận bị tổn thương dẫn đến tiểu cầu thận trở nên cứng. Khi bệnh phát triển, khả năng lọc của tiểu cầu thận và khả năng hấp thụ của mao mạch suy giảm thì người bệnh sẽ xuất hiện nhiều triệu chứng như máu nhiễm urea, nước tiểu có nhiều albumin,… Nếu bệnh tiếp diễn sẽ dẫn đến suy thận, phải lọc thận bằng máy hoặc thay thận thì mới mong kéo dài sự sống. Nói tóm lại, cao huyết áp có thể dẫn đến hại thận mà thận bị tổn hại thì huyết áp càng cao.

cao huyet ap1

Phòng bệnh cao huyết áp như thế nào?

Huyết áp cao là một loại bệnh phát triển chậm, có thể đề phòng.

  • a) Những người lao động trí óc dễ mắc bệnh cao huyết áp nên cần tham gia lao động chần tay trong chừng mực có thể. Lao động giúp nâng cao thể chất, làm cho mạch máu xung quanh các cơ giãn ra, giảm mệt mỏi cho đại não, hạn chế tăng huyết áp.
  • b) Sắp xếp hợp lý cuộc sống, ngủ đủ giấc để não được nghỉ ngơi đúng mức, cơ thể giảm trao đổi chất, tim đập chậm, mạch giảm, huyết áp hạ.
  • c) Cần hạn chế tôl đa những nhân tố kích thích có hại như thuốc lá, rượu; những người 40 tuổi trở lên cần hạn chế ăn những thức ăn có nhiều cholesterol.
  • d) Cần nuôi dưỡng tinh thần lạc quan, giữ cho tâm trạng luôn thoải mái, thường xuyên tham gia hoạt động văn hóa, văn nghệ tập thể và thường xuyên tập thể dục.
  • e) Những người đã mắc bệnh cao huyết áp cần phải trị bệnh sớm để huyết áp được tương đôi ổn định; tránh làm cho tim, thận, mạch máu bị tổn hại, người bệnh duy trì được sức khỏe để làm việc.

Nếu phát hiện bệnh quá muộn, chậm trễ trong điều trị, cũng khống nên quá lo lắng. Trong trường hợp này nên dùng thuốc hạ huyết áp hay dùng biện pháp khác để huyết áp giảm đến mức cho phép, tránh gây tổn hại cơ quan nội tạng, vẫn có thể khống chế được sự phát triển của bệnh.

Người mắc bệnh cao huyết áp cần kiểm tra những gì?

  • Kiểm tra chức năng thận: đo lượng urea trong nước tiểu, lượng kali trong máu…
  • Đo lượng đường trong máu.
  • Kiểm tra lượng calcium trong máu.
  • Kiểm tra lượng acid uric trong máu.
  • Kiểm tra lượng cholesterol trong máu.
  • Đo điện tâm đồ.
  • Chụp X quang lồng ngực.

Bệnh cao huyết áp dẫn đến 70% xuất huyết não, cho nên người mắc bệnh cần đi khám bệnh thường xuyên.

Đo huyết áp cần chú ý những vấn đề gì?

Muốn đo huyết áp chính xác cần chú ý:

  • Đo động mạch cánh tay phải, khi đo phải vén cao tay áo, khống nắm chặt tay, đặt tay cao bằng độ cao của tim.
  • Khi đo phải thoải mái tinh thần, ngồi thư giãn 15 phút.
  • Nếu đo lần đầu thấy cao huyết áp, cần thư giãn một tiếng đồng hồ rồi đo lại.
  • Mỗi khi đo huyết áp nên đo hai lần. Nếu hai lần đo có kết quả chênh nhau 4mmHg thì đo lại, nếu kết quả khống đổi thì lấy chỉ số trung bình giữa hai lần đo.

loi song lanh manh cho nguoi benh cao huyet ap thay doi 1 loi den 10 1024x686

Tại sao người mắc bệnh cao huyết áp phải đo huyết áp thường xuyên?

Hiện nay, bệnh cao huyết áp là một trong những chứng bệnh nguy hiểm nhất đôi với sức khỏe con người. Có nhiều người do thiếu kiến thức tự phòng bệnh, khống đo huyết áp định kỳ, dễ dẫn đến bệnh nặng lúc nào khống hay. Thông thường, người bệnh khi huyết áp tăng cao sẽ cảm thấy nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi… Nhưng có một số người do thường xuyên bị cao huyết áp hoặc huyết áp có biến động lớn nên đã thích nghi dần với nó mà khống cảm thấy có triệu chứng rõ ràng. Nếu khống đo huyết áp định kỳ, khống uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ, sẽ dễ phát sinh những triệu chứng ở tim, não, thận… rất nguy hiểm. Do đó người mắc bệnh cao huyết áp phải đo huyết áp thường xuyên, điều này rất quan trọng.

Huyết áp giảm dến mức nào là vừa?

Trước hết cần phải nhấn mạnh rằng, tiêu chuẩn để trị bệnh cao huyết áp khống phải chỉ đơn thuần là hạ sô’ đo huyết áp, mà chủ yếu là đề phòng và hạn chế tổn hại cho các cơ quan nội tạng. Hiện nay người ta cho rằng cần phải hạ huyết áp đến giới hạn có thể.

Tiêu chuẩn tốt nhất của huyết áp là <120/80mmHg; tiêu chuẩn của huyết áp bình thường là <140/90mmHg.

Giới hạn cao bình thường của huyết áp là 13Q – 139/85 – 89 mmHg. Người mắc bệnh đái tháo đường cần khống chế huyết áp dưới mức 130/85mmHg.

Huyết áp đã hạ đến mức cho phép, vậy có thể ngừng uống thuốc được khống?

Trừ một số ít người mắc bệnh cao huyết áp thể nhẹ, ở giai đoạn đầu, ngoài ra phần lớn đều phải mang bệnh suốt đời.

Do đó cần phải uống thuốc dài ngày hoặc suốt đời. Nếu thấy huyết áp trở lại bình thường mà ngừng uống thuốc thì sớm hay muộn bệnh cũng tái phát. Tốt nhất là sau khi đã khống chế và ổn định huyết áp được một năm thì có thể giảm liều lượng hoặc giảm loại thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ. Thuốc hạ huyết áp phải uống dài ngày để tránh “hội chứng tổng hợp của ngừng thuốc” dẫn đến mắc các chứng bệnh về tim, não, thận, mạch máu…

238688119 1024x683 huyet ap

Người mắc bệnh cao huyết áp phải uống thuốc như thế nào?

Kết quả nghiên cứu cho thấy huyết áp hạ 6mmHg sẽ giảm được 34% trường hợp xuất huyết não, nhồi máu cơ tim cũng giảm.

Do đó, mục tiêu của việc chữa bệnh cao huyết áp là làm giảm huyết áp đến mức có thể chịu đựng, đồng thời phải chú ý bảo vệ tim, não, thận… Muôn trị bệnh huyết áp thì phải uống thuốc suốt đời nhưng có nhiều người bệnh thiếu kiên nhẫn để làm được điều này. Ngoài những quan niệm sai còn có những loại thuốc gây phản ứng xấu, nếu cùng một lúc uống nhiều loại thuốc có tác dụng khác nhau và uống thuốc khống đúng cách sẽ gây hậu quả đáng tiếc. Do dó cần phải chọn loại thuốc thích hợp, có hiệu quả lâu dài.

Người mắc bệnh cao huyết áp khi dùng thuốc cần chú ý điều gì?

Những người được bác sĩ xác định mắc bệnh cao huyết áp, khi dùng thuốc phải theo lời chỉ dẫn của bác sĩ, hạn chế dùng thuôh hạ huyết áp, dùng ít mà hiệu quả cao. Phải kiên trì uống thuốc đúng cách, đúng giờ, chú ý tránh uống nhầm thuốc, tránh tự mình tăng, giảm liều lượng hoặc ngưng uống thuốc. Dùng thuốc hạ huyết áp phải kết hợp đo huyết áp và ghi chép cẩn thận để theo dõi, giúp bác sĩ điều trị có kết quả.

Khi ngủ dậy nên từ từ, tránh thay đổi tư thế đột ngột, rất dễ ngã. Khi sử dụng thuốc lợi tiểu để hạ huyết áp cần chú ý uống đúng liều lượng; đôi với người đi tiểu nhiều cần bổ sung thêm kali, muốn ăn và thức uống (chủ yếu là nước trái cây và rau xanh…). Khi dùng thuốc trợ tim nên giảm dần liều lượng, tránh giảm hoặc ngừng đột ngột, dễ làm cho tim bị đau thắt.

Lời kết

Hy vọng bài viết chia sẻ này sẽ là nguồn thông tin hữu ích đối với những người đang mắc bệnh cao huyết áp.

54 views