HIV – Có thể phát hiện từ triệu chứng đầu tiên?

Nhắc đến HIV là nhắc đến căn bệnh thế kỷ loài người. Thời gian nhiễm HIV thường kéo dài và đa số trong số người nhiễm không có biểu hiện lâm sàng, bề ngoài hoàn toàn khỏe mạnh. Chính vì vậy họ là nguồn lây nhiễm rất lớn. Khi có một người bệnh AIDS thì trên thực tế đã có hàng trăm người nhiễm HIV không có triệu chứng trong cộng đồng. Đây chính là hiện tượng “tảng băng nổi”.

HIV/AIDS là gì?

HIV là từ tiếng Anh, được viết tắt từ cụm từ “Human Immnuno Deficiency Virus”, có nghĩa là “Virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người”. Virus này được 2 nhà khoa học người Pháp là Luc Montagnier và Francoise Barre Sinoussi phân lập vào năm 1983 tại viện Pasteur Paris và đã được xác định là căn nguyên gây AIDS. 

AIDS là từ tiếng Anh, được viết tắt từ cụm từ “Acquired Immuno Deficiency Syndrome”, có nghĩa là “Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải”. AIDS là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV, gây tổn thương hệ thống miễn dịch của cơ thể, làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh và dẫn đến chết người.

Nhìn chung thời gian từ khi nhiễm HIV đến giai đoạn AIDS dao động từ 7 – 10 năm, sau khi chuyển huyết thanh dương tính. Do vậy số người bệnh AIDS hiện nay thường là hậu quả của nhiễm HIV từ  5 – 10 năm trước.

Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng lây nhiễm HIV

Xác suất lây nhiễm HIV sau khi tiếp xúc với nguồn lây rất khác nhau và phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm:

  • Tải lượng virus HIV của nguồn lây nhiễm càng cao thì nguy cơ lây nhiễm càng lớn, ví dụ như ở trong giai đoạn nhiễm HIV cấp tính (giai đoạn cửa sổ) và giai đoạn chuyển sang AIDS.

  • Đường lây truyền của HIV.  

  • Thời gian, nơi tiếp xúc và tần suất tiếp xúc.

  • Sức đề kháng của cơ thể và nhiều yếu tố khác.

                                               

Quá trình xâm nhập và nhân lên của HIV

Đích tấn công của HIV là các tế bào có điểm tiếp nhận CD4, bao gồm các tế bào lympho T4, tế bào niêm mạc đường hô hấp, tế bào đệm thần kinh và các tế bào thượng bì. Quá trình nhân lên của virus được gia tăng khi bệnh nhân bội nhiễm thêm các bệnh khác như bệnh lây truyền qua đường tình dục, viêm gan virus B,C.

Quá trình xâm nhập và nhân lên của virus HIV gồm 7 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: Giai đoạn gắn kết và hòa màng: HIV tiếp cận và gắn được vào các tế bào T CD4. Sau đó virus hòa màng của nó với màng của tế bào T CD4. Sau khi hòa màng, các thành phần của ARN và các men của virus sẽ xâm nhập vào trong nguyên sinh chất của tế bào T CD4.

  • Giai đoạn 2: Giai đoạn sao chép ngược: Trong nguyên sinh chất của tế bào T CD4, men sao chép ngược RT của virus sẽ sao chép ARN (1 sợi) của HIV thành ADN (sợi kép).

  • Giai đoạn 3: Hình thành sợi kép ADN.

  • Giai đoạn 4: Giai đoạn tích hợp: ADN sợi kép của virus sẽ vào nhân tế bào T CD4 và tích hợp vào các ADN của tế bào T CD4 nhờ men integrase.

  • Giai đoạn 5: Giai đoạn sao mã và nhân lên: ADN của HIV sẽ thực hiện quá trình sao mã để tạo thành ARN thông tin và tổng hợp nên các protein của HIV.

  • Giai đoạn 6: Giai đoạn lắp ráp và nảy chồi: Men protease cắt sợi dài protein thành các protein ngắn phù hợp. Sau đó ARN, các protein này và men của HIV tiến ra vùng ngoại vi rồi dùng màng tế bào T CD4 để tạo thành màng của virus, thoát ra ngoài thành virus mới hoàn chỉnh.

  • Giai đoạn 7: Virus HIV phân tán trong cơ thể.

HIV mới này tiếp tục tìm sang các tế bào T CD4 khác bắt đầu một chu trình mới. Ước đoán mỗi ngày có hàng tỷ virus mới được tạo ra và có khoảng 200 triệu tế bào T CD4 bị phá huỷ.

Triệu chứng lâm sàng của HIV

– Giai đoạn sơ nhiễm (Hội chứng nhiễm virus cấp tính): Thường xuất hiện sau 2 – 4 tuần nhiễm HIV và kéo dài trong 1 – 2 tuần. Khoảng 20-50% số người nhiễm HIV có biểu hiện các triệu chứng nhiễm HIV cấp tính.

Các biểu hiện lâm sàng giống như nhiễm các loại virus khác.

  • Hội chứng giả cúm: Sốt 38 – 40oC hoặc sốt nhẹ thất thường, đau đầu, mệt mỏi, đau nhức mình mẩy toàn thân, sưng hạch ở một số nơi: cổ, nách…

  • Phát ban dạng sởi hoặc sẩn đỏ trên da mặt, ngực hoặc tứ chi với đường kính 5 – 10 mm, kéo dài khoảng 5 – 8 ngày.

  • Có thể ngứa nhẹ, buồn nôn, tiêu chảy, gan, lách to, loét miệng, sinh dục.

Các triệu chứng lâm sàng sẽ hết sau vài ngày. Trong giai đoạn này, nồng độ virus trong máu rất cao, cho nên nguy cơ lây truyền HIV cho người khác là rất lớn. Tuy nhiên, giai đoạn này dễ bị bỏ qua.

– Giai đoạn không triệu chứng (Giai đoạn tiềm tàng): Đây là giai đoạn không có biểu hiện lâm sàng, mặc dù trong máu có HIV và người nhiễm HIV trở thành nguồn lây cho mọi người thông qua các hành vi nguy cơ. Giai đoạn này thường kéo dài từ 5 – 10 năm hoặc lâu hơn.

Đã có thể hiểu vì sao gọi đây là hiện tượng “tảng băng nổi”. Nghĩa là phần nhỏ nổi trên mặt nước là số người bệnh AIDS còn phần lớn chìm phía dưới là số người nhiễm HIV không triệu chứng và những người ở cận AIDS.

– Giai đoạn hội chứng hạch dai dẳng:

  • Bệnh lý hạch toàn thân.

  • Sốt kéo dài không rõ nguyên nhân.

  • Biểu hiện da, niêm mạc: Phát ban sẩn ngứa, viêm da tuyến bã, Zona (Herpes zoster), viêm loét miệng tái diễn, nấm candida miệng, âm đạo, bạch sản dạng lông ở miệng.

  • Tiêu chảy kéo dài không rõ nguyên nhân.

  • Nhiễm trùng hô hấp tái phát nhiều lần.

  • Sụt cân dưới 10% trọng lượng cơ thể mà không rõ lý do.

  • Lao phổi.

  • Thiếu máu, giảm bạch cầu đa nhân trung tính, giảm tiểu cầu.

– Giai đoạn AIDS: AIDS ít có dấu hiệu đặc trưng riêng. Về lâm sàng, chủ yếu là các dấu hiệu suy mòn, nhiễm trùng cơ hội đối với các vi khuẩn, virus, nấm do suy giảm miễn dịch.

  • Hội chứng suy mòn: Sụt cân trên 10% trọng lượng cơ thể, kèm theo sốt kéo dài trên 1 tháng hoặc/và tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng.

  • Các nhiễm trùng cơ hội: viêm phổi do Pneumocystis Pneumonia (PCP), nhiễm ký sinh trùng Toxoplasma não, nấm Cryptococcus neoformans, nhiễm nấm Penicillium marneffei, nấm thực quản, nhiễm phức hợp Mycobacterium avium complex (MAC), lao ngoài phổi, nhiễm khuẩn huyết do Salmonella không phải thương hàn, bệnh lý não do HIV.

Thời gian từ khi bị nhiễm bệnh cho đến khi có kháng thể trong máu (khoảng 3 tháng) được gọi là “thời kỳ cửa sổ”, cơ thể sau khi nhiễm HIV sản xuất ra kháng thể chống lại HIV, phát hiện được kháng thể này có nghĩa là người đó đã bị nhiễm HIV. Thời gian từ khi bị nhiễm HIV đến khi diễn biến thành AIDS được gọi là “thời kỳ ủ bệnh”, có thể kéo dài từ 7 – 10 năm.

                                               

Có hay không vắc – xin điều trị HIV?

Hiện tại, không có vắc – xin điều trị HIV được cấp phép trên thị trường nhưng nhiều dự án nghiên cứu đang diễn ra để cố gắng tìm một loại vắc – xin hiệu quả. Có bằng chứng trên con người rằng tạo ra một loại vắc-xin HIV là có tính khả thi. Nhưng đó chỉ là một số rất ít, không phải là tất cả, các cá nhân phơi nhiễm HIV tự sản xuất kháng thể trung hòa kìm hãm virus làm cho những người này vẫn không có triệu chứng trong nhiều thập kỷ. Các kháng thể trung hòa có thể được nhân bản vô tính trong phòng thí nghiệm (kháng thể đơn dòng) và đang được thử nghiệm lâm sàng chủng ngừa thụ động.

Tuy nhiên, nhờ sự phát triển nhanh chóng của y học, từ năm 1987 thuốc zidovudine (AZT) lần đầu tiên được Cơ quan Thuốc và Thực phẩm Hoa kỳ (FDA) chấp nhận sử dụng để điều trị cho người nhiễm HIV. Ở Việt Nam, từ năm 2005, việc mở rộng các chương trình điều trị HIV/AIDS bằng thuốc kháng retrovirus (ARV) đã được triển khai ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước.

156 views

Bạn thấy bài viết hữu ích không

Click vào ngôi sao để đánh giá

Đánh giá 4.5 / 5. Số đánh giá 66