Gừng khô – Gừng tươi – Những lầm tưởng không phải ai cũng biết

Gừng từ lâu đã được biết đến như một thứ gia vị quan trọng, dùng để tẩm ướp, chế biến trong khẩu phần ăn của người Việt. Bởi hương thơm mạnh mẽ và vị cay nồng nà của nó.  Khi làm gia vị, gừng là phụ gia trọng yếu, không thể thiếu trong nhiều món ăn, thức uống có chất đạm cao, làm “mát bụng” như trong các món thịt vịt hấp gừng, mực biển hấp gừng…, đồng thời cũng là một gia vị làm giảm, khử bớt mùi hôi tanh cho thực phẩm. Ngoài ra, Gừng còn là một vị thuốc chữa bệnh. Theo Đông y, Gừng có thể dùng cho 17 thứ bệnh khác nhau như trị cảm mạo, đau bụng kinh. Tuy nhiên không phải ai cũng biết cách bào chế để khai thác được công dụng cao nhất của nó.

Gừng tươi

Gừng tươi

Gừng có tên khoa học là Zingiber officinale Rose. Họ Gừng – Zingiberaceae, vị cay, tính ấm. Tùy theo cách bào chế mà gừng trở thành nhiều vị thuốc khác nhau. Theo Đông y thường dùng gồm: gừng tươi (sinh khương), gừng khô (can khương), gừng sao cháy (thán khương), đem lùi (ổi khương). Bài viết sau đây chúng ta cùng tìm hiểu về can khương và sinh khương, sự khác nhau và ứng dụng của nó như thế nào.

1. Sinh khương

Sinh khương là gừng tươi. Ta dùng trực tiếp phần thân rễ của cây gừng đem rửa sạch. Gừng tươi được quy vào kinh phế (phổi), tỳ (lá lách), vị (dạ dày), thận.

1.1: Tác dụng phát tán phong hàn

Sinh khương có tác dụng chữa cảm mạo do phong hàn gây ra. Có thể dùng riêng 4g sắc, uống nóng; hoặc phối hợp với bạch chỉ,kinh giới… Có thể dùng để phòng để phòng cảm lạnh khi gặp mưa gió lạnh,dùng miếng gừng nhấm dần hoặc uống 1 cốc nước gừng nóng với đường, hoặc dùng gừng tươi giã nát sát trên da khi cảm bị cảm lạnh

Sinh khương phối hợp với kinh giới có tác dụng chữa cảm mạo do phong hàn

Sinh khương phối hợp với kinh giới có tác dụng chữa cảm mạo do phong hàn

1.2: Tác dụng làm ấm dạ dày

Gừng tươi tác dụng làm ấm vị ( ấm dạ dày), hết nôn lợm dùng khi bị lạnh, bụng đầy trướng, đau bụng không tiêu. Đặc biệt tốt cho phụ nữ sau khi đẻ bị cảm lạnh, khí huyết bị ngưng trệ, đầy bụng, mặt nặng

Sinh khương tác dụng làm ấm dạ dày

Sinh khương tác dụng làm ấm dạ dày

1.3: Hóa đờm, chỉ ho

Tác dụng hóa đờm, chỉ ho ( hết đờm, giảm ho), chữa ho do lạnh. Có thể phối hợp với tử tô, hạnh nhân…

Sinh khương phối hợp với tử tô chữa ho do lạnh

Sinh khương phối hợp với tử tô chữa ho do lạnh

1.4: Cứu huyệt

Gừng tươi còn dùng để cứu gián tiếp trên các huyệt, làm mất mùi hôi tanh của gạc hươu nai, cao xương động vật

Tuy nhiên, gừng không nên dùng cho những người ho do phế nhiệt, nôn do vị nhiệt. Vì bản chất cay, ấm của gừng sẽ làm nặng thêm bệnh

2. Can khương

Can khương là thân rễ đã phơi khô của cây gừng, tuy nhiên không quá nóng làm mất tinh dầu thơm của gừng can khương quy vào kinh tâm, phế, tỳ, vị.

Can khương

Can khương

Nếu như Sinh khương thuộc nhóm thuốc phát tán phong hàn thì Can khương đứng đầu danh sách trong nhóm thuốc ôn trung trừ hàn ( ôn lý trừ hàn) với tính chất cay, ôn đặc trưng. Vốn dĩ Sinh khương ( gưng tươi) cũng đã có tính ấm, nóng. nay được làm khô thì tính chất ấy càng tăng lên, tạo thành vị thuốc có vị đại cay. điều này cũng giải thích cho chú ý không nên dùng cho phụ nữ có thai (mà sinh khương có thể dùng được). Can khương có tác dụng ôn trung khử hàn, hồi dương thông mạch, đồng thời có tác dụng chỉ ho, cầm máu.

Chi tiết hơn về chủ trị, theo Đông y có 5 công dụng chính như sau

1.1: Ôn trung hồi dương

Can khương có tác dụng ôn trung hồi dương, dùng khi tỳ vị hư nhược, chân tay quyết lạnh. Dùng phối hợp với phụ tử chế, Cam thảo (phương tứ nghịch), Can khương vừa là 1 vị thuốc có công dụng nhất định góp phần trong bài thuốc, vừa là giúp phụ tử chế được giảm bớt độc tính. Trong phương thuốc này, Thúc phụ tử là một vị thuốc có tính vị cay, đại nhiệt ôn phát dương, phát dương khí, khu phong tán hàn tà là chủ dược. Can khương có tác dụng ôn trung tán hàn, kết hợp với Phụ tử gia tăng tác dụng hồi dương. Và vì hai vị thuốc này vốn đã là 2 vị có tính đại cay, nên cần dùng vị thuốc chích cam thảo ôn dưỡng dương khí để làm bớt tính cay, nóng của Khương, Phụ

Can khương có tác dụng ôn trung tán hàn, kết hợp với Phụ tử gia tăng tác dụng hồi dương

Can khương có tác dụng ôn trung tán hàn, kết hợp với Phụ tử gia tăng tác dụng hồi dương

1.2: Ôn trung chỉ tả

Can khương có tác dụng trong trường hợp hàn tà gây tiết tả, bụng sôi, phân nát lỏng. Bài thuốc tạo thành khi dùng Can khương phối hợp hới cao lương khương đồng lượng. Sau đó nghiền bột hoặc làm viên( phương Nhị khương).

1.3: Ấm vị chỉ nôn

Khi hàn tà xâm phạm vào cơ thể gây nôn ra nước dãi. Ta có thể phối hợp với bán hạ chế để tạo thành 1 phương thuốc( phương bán hạ can khương tán). Hoặc có thể phối hợp với cả Nhân sâm (can khương, bán hạ, nhân sâm) ( phương can khương nhân sâm bán hạ hoàn) dùng để trị chứng nôn lợm do lạnh. Theo sách Kim quỹ yếu lược, đây là bài thuốc Tiểu bán hạ thang có thêm và bớt một số vị. Bỏ Gừng tươi ( Sinh khương) để thay bằng Gừng khô ( Can khương), và thêm vị Nhân sâm. Lúc này, thuốc có thể dùng cho phụ nữ ốm nghén, nôn mửa kéo dài.

thuốc có thể dùng cho phụ nữ ốm nghén

thuốc có thể dùng cho phụ nữ ốm nghén

1.4: Ôn phế chỉ khái

Can khương có tác dụng dùng khi hàn ẩm xâm phạm phế(phổi) gây ho, khí, suyễn. Can khương phối hợp với hoàng cầm, bạch phục linh, ngũ vị tử, cam thảo, tế tân( phương cầm cam ngũ vị khương tân thang). Trong đó can khương, tế tân, bạch phục linh là chủ dược trong bài thuốc. Can khương, Tế tân ôn phế tán hàn. Bạch phục linh kiện tỳ thẩm thấp hoá đàm. Ngũ vị từ ôn liễm phế khí. Và cam thảo để kiện tỳ, điều hoà các vị thuốc. Các vị thuốc được dùng vừa có tác dụng tán vừa có tác dụng liễm vừa có tác dụng khai và hạp giúp Phế được ấm. Khi đó đờm ẩm sẽ tiêu tan.

Can khương có tác dụng dùng khi hàn ẩm xâm phạm phế(phổi) gây ho, khí, suyễn

Can khương có tác dụng dùng khi hàn ẩm xâm phạm phế(phổi) gây ho, khí, suyễn

1.5: Ấm kinh chỉ huyết

Ngoai những tác dụng vừa được nêu trên, Can khương còn có tác dụng ấm kinh chỉ huyết, dùng cho các trường hợp xuất huyết (thổ huyết, băng huyết, tiện huyết) do tính hư hàn. Trường hợp này can khương phải sao tồn tính (nhiệt độ cao 190 – 220 độ c, lửa to và đảo đều tay đến khi dược liệu có mặt ngoài màu đen và bên trong vẫn còn màu vàng là đạt). Trường hợp phụ nữ băng huyết, có thể dùng thêm Tông lư thán, Ô mai thán giúp tăng hiệu quả cho bài thuốc.

Can khương đốt tồn tính có tác dụng chỉ huyết

Can khương đốt tồn tính có tác dụng chỉ huyết

Tuy nhiên cũng giống như Sinh khương, vị Can khương cũng có những lưu ý, những điều kiêng kị đối với những trường hợp nhất định. Can khương vị đại cay, nên với trường hợp người âm hư có nhiệt, người có thai không nên dùng. Và cũng vì Can khương cay nên tán khi tẩu huyết, uống lâu tổn hại tới phần âm, thương tổn mắt. Ngoài ra những chứng âm hư nội nhiệt, ho do âm hư, nôn ra máu kèm biểu hư có nhiệt, tự ra mồ hôi, mồ hôi trộm, ỉa ra máu, mửa ra máu do nhiệt, đau bụng do hoả nhiệt đều cấm dùng. Vị này ( An khương) ghét Hoàng cầm, Hoàng liên, Hạ minh sa, Tần tiêu làm sứ cho nó ( Bản thảo kinh sơ)

Trên đây là những sự khác nhau giữa gừng khô (can khương) và gừng tươi( sinh khương). Một món gia vị rất đơn giản, dễ tìm kiếm, có thể thấy ở hầu hết các địa điểm buôn bán hàng hoá, đồ khô( siêu thị, chợ), rất quen thuộc với chúng ta hàng ngày. Và cũng là một vị thuốc Đông y quan trọng trong nhiều phương thuốc chữa bệnh. Có thể thấy chỉ với một vị gừng nhưng qua nhiều cách bào chế, chế biến khác nhau, sẽ đem lại những công dụng, và hướng quy kinh khác nhau. Từ đó ta có thể vận dụng linh hoạt và chủ động hơn trong việc sử dụng và ứng dụng của Gừng.

Hi vọng những thông tin trên đây có thể giúp cho bạn đọc nắm rõ hơn gừng khô – gừng tươi. Và đừng quên ghé qua khoemoingay.net để cập nhật thêm thông tin, kinh nghiệm chăm sóc sức khoẻ cho bản thân và gia đình mình bạn nhé !

222 views

Bạn thấy bài viết hữu ích không

Click vào ngôi sao để đánh giá

Đánh giá 5 / 5. Số đánh giá 4