CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CỦA TRẺ TỪ MỘT ĐẾN HAI THÁNG TUỔI

I. Đặc điểm dinh dưỡng của trẻ hai tháng tuổi

Đối với trẻ hai tháng tuổi, phải tiếp tục cho trẻ bú sữa mẹ. Nếu không có điều kiện cho trẻ bú sữa mẹ, thì cứ cách bốn tiếng lại cho trẻ ăn một bữa sữa, một ngày sáu bữa, lượng sữa mỗi bữa là 100ml. Lượng sữa trong ngày không thể vượt quá 1l.

Nếu trẻ ăn chưa no, có thể cho trẻ ăn bột bổ sung, cứ 100ml sữa cho thêm 3 ~ 5g bột, rồi cho vào hâm nóng lên là được.

Thức ăn bổ sung cho trẻ hai tháng tuổi vẫn là nước quả, nước rau, mỗi lần từ một đến hai thìa, mỗi ngày một đến hai lần.

Dầu gan cá ngày ba lần, mỗi ngày hai giọt; Canxi mỗi ngày hai đến ba lần, mỗi lần 2 viên.

II. Cho trẻ ăn khi bị tiêu chảy

Trẻ thường bị tiêu chảy vào mùa hè và mùa thu, ngoài đường ruột bị nhiễm khuẩn,nguyên nhân chính là do ăn uống không đúng cách, thời tiết quá nóng hoặc đột nhiên bị lạnh gây ra.

Nếu cho trẻ ăn không đúng giờ, thức ăn đã biến đổi nhiều, đường ruột của trẻ không thể thích ứng được, khiến trẻ dễ bị tiêu chảy.

Trẻ bị tiêu chảy, ngoài việc phải chú ý dùng thuốc điều trị, cũng phải chú trọng dinh dưỡng hàng ngày.

Khi trẻ bú sữa ngoài bị tiêu chảy, phải căn cứ vào tình trạng tiêu chảy, nôn mửa, ăn uống và tình trạng tiêu hóa của trẻ để xác định phương án trị liệu bằng cách ăn uống.

Nếu bệnh tình trẻ tương đối nặng,mỗi ngày đi tiêu hơn 10 lần, có kèm theo hiện tượng nôn mửa, phải tạm thời dừng cho trẻ không ăn sữa bò, tức là dừng ăn khoảng từ sáu đến tám tiếng, dài nhất không quá 12 tiếng.

Khi ngừng ăn, nấu canh cà rốt cho trẻ uống vào giữa hai bữa và lượng dùng mỗi lần cũng giống như khi cho trẻ ăn sữa bò.

Những thức ăn này dễ tiêu hóa, có thể giảm tải gánh nặng cho đường ruột.

  • Nếu tình trạng tiêu chảy của trẻ có chuyển biến tốt, dần dần thay thế các canh trên bằng nước cháo gạo, sữa đã tách chất béo, sữa loãng, sau dần cho trẻ ăn lại chế độ bình thường.
  • Nếu tình trạng tiêu chảy của trẻ không nghiêm trọng, mỗi ngày đi tiêu năm đến sáu lần hoặc bảy đến tám lần, nhiều hơn hai đến ba lần so với bình thường, không bị nôn mửa, lúc này có thể tạm cho trẻ uống nước cháo gạo một đến hai ngày, sau đó cho trẻ uống sữa loãng để đường ruột dần thích ứng.
  • Nếu trẻ thỉnh thoảng mới bị tiêu chảy, mức độ nhẹ, thì chỉ cần cho trẻ ăn sữa loãng từ một đến hai ngày là được, sau đó cho trẻ ăn lại bình thường, nên dùng nước cháo gạo để pha sữa, bởi vì nước cháo gạo không lên men, làm giảm kích thích tới đường ruột.

Khi trẻ đi đại tiện bình thường, có thể cho trẻ uống sữa ngoài với hàm lượng như ban đầu.

III. Cho trẻ bú theo nhu cầu, không nên cứ thấy trẻ khóc là cho bú

Đối với trẻ sơ sinh, không nên áp dụng phương pháp cho bú định giờ ba tiếng một lần cứng nhắc, mà nên cho trẻ bú theo nhu cầu. Nhưng cho trẻ bú theo nhu cầu không có nghĩa là hễ trẻ khóc lại cho trẻ bú. Trẻ không chỉ khóc khi đói, mà khi cơ thể không thoải mái, trẻ muốn bế hoặc khi bị kích thích trẻ cũng khóc.

Cách cho trẻ ăn mỗi khi trẻ khóc, nếu mẹ không đủ sữa sẽ xuất hiện các tình trạng sau:

Trước tiên, cho trẻ bú liên tục sẽ khiến cho tinh thần của mẹ bất ổn, lúc nào cũng bận rộn,lo lắng, không nghỉ ngơi đầy đủ, ảnh hưởng đến việc tiết sữa khiến cho mẹ ngày càng thiếu sữa.

Còn trẻ, do lần nào bú cũng không đủ no, nên chỉ được một lúc là trẻ lại cảm thấy đói,lại khóc quấy, tạo thói quen xấu. Hơn nữa, cho trẻ bú quá nhiều lần, dễ làm cho đầu vú của mẹ bị nứt, cuối cùng vì mẹ bị đau nên chuyển sang cho trẻ uống sữa bò.

Nếu trẻ khóc sau khi bú không lâu, phải chú ý xem có phải trẻ tiểu tiện ướt tã hay không, trẻ có thể khóc vì tã ướt chứ trẻ không đói. Có trẻ khóc chỉ vì muốn được mẹ bế, chỉ cần bế trẻ lên là trẻ nín khóc.

Nếu trẻ cứ khóc là cho trẻ bú dễ làm cho trẻ bị rối loạn chức năng tiêu hóa.

Một tháng sau sinh, nên dần hình thành nếp sinh hoạt cố định cho trẻ, thời gian để trẻ đói bụng cũng phải dần hình thành.

Thông thường, khi trẻ được một tháng, cứ cách ba tiếng cho trẻ bú một lần, khi được hai tháng, cứ cách ba tiếng rưỡi cho trẻ bú một lần, như vậy tương đối phù hợp với tiêu hóa của trẻ.

Nhưng như vậy không có nghĩa là phải cho trẻ bú theo đúng thời gian cứng nhắc đó, mà còn phải căn cứ vào tình trạng của mẹ con để quyết định thời gian cho bú.

IV. Nôn trớ

Trẻ trớ sữa sau khi ăn sữa, có một đến hai ngụm sữa trào ra từ khóe miệng trẻ.

Nguyên nhân do sau khi ăn xong không vỗ lưng ợ hơi, hoặc do thay đổi vị trí cơ thể đột ngột nên dễ bị trớ sữa. Trớ sữa sẽ tự nhiên mất đi cùng với việc trưởng thành ở trẻ, tức là sau khoảng sáu tháng, trẻ sẽ không còn bị trớ sữa nữa, trớ sữa không ảnh hưởng đến phát triển của trẻ.Có trẻ còn có tật hay bị nôn trong khoảng thời gian từ một đến hai tháng tuổi.

Đôi khi, trẻ nôn hết ra sau khi ăn xong, hoặc sau khi ăn 20 phút trẻ vẫn nôn ra hết, sữa trẻ nôn ra có dạng đậu phụ nát, đây là kết quả tác dụng của dịch vị và sữa.

Trước khi nôn, trẻ không có biểu hiện đau đớn, sau khi nôn xong cũng không có bất kỳ biểu hiện bất thường nào, trẻ đi ngoài bình thường, tinh thần rất tốt, không sốt. Đây là nôn theo thói quen, không nên lo lắng, tình hình sẽ có chuyển biến tốt dần lên.

Đối với trẻ hay nôn trớ, không thể cho trẻ ăn theo phương pháp định giờ, sau khi nôn xong, trẻ sẽ rất nhanh đói, lượng mỗi bữa nên giảm, nên bế trẻ sau khi trẻ ăn, để nửa người trên của trẻ được thẳng, cho đến khi nào trẻ ợ hơi. Sau đó đặt trẻ lên giường, cho trẻ nằm gối, nằm nghiêng sang phải khoảng 20 phút,như vậy sẽ làm giảm số lần nôn trớ ở trẻ.

V. Phòng tránh nôn trớ ở trẻ

Nguyên nhân của việc nôn trớ còn có thể xuất phát từ cách bú của trẻ, khi bú sữa, trẻ dễ hít cả không khí, vì vậy, sau khi bú xong sữa dễ chảy từ dạ dày trào ngược ra khoang miệng,vì vậy, gây ra hiện tượng nôn. Làm thế nào để trẻ không bị nôn?

1. Nắm được khoảng thời gian giữa hai lần cho trẻ bú

Thông thường, khoảng thời gian trống của sữa trong dạ dày trẻ là khoảng từ hai đến ba tiếng, do đó cứ cách khoảng ba tiếng cho trẻ bú một lần là hợp lý, nếu trẻ ăn quá nhiều lần,sữa của lần ăn trước vẫn còn tồn đọng một phần trong dạ dày, nên sẽ ảnh hưởng đến lượng ăn của bữa sữa sau, hoặc dạ dày bị no, giãn to gây ra nôn.

2. Tư thế cho bú thích hợp

Có bà mẹ thích tư thế nằm cho con bú, tức là cả hai mẹ con đều nằm nghiêng đối mặt với nhau, áp dụng tư thế cho bú kiểu này khiến cho trẻ rất dễ bị nôn trớ.

Nếu mẹ bế trẻ lên cho bú, sẽ làm giảm nguy cơ nôn ở trẻ. Nếu được bế, trẻ sẽ nằm nghiêng, cửa dưới của dạ dày có độ nghiêng nhất định, sữa ăn vào sẽ có một phần chảy xuống ruột non do tác dụng của trọng lực, làm cho một phần dạ dày trống rỗng.

Trong tình huống trẻ bú vào một lượng sữa, bế cho trẻ bú sẽ giảm nguy cơ nôn trớ ở trẻ hơn so với nằm cho trẻ bú.

3. Không nên đặt trẻ nằm ngay sau khi ăn

Sau khi bú xong, mẹ không nên đặt trẻ nằm xuống giường ngay, mà phải bế trẻ thẳng đứng, để trẻ úp mặt lên vai mẹ, mẹ lấy tay vỗ nhè nhẹ vào lưng trẻ, để không khí nuốt vào sẽ theo đường sữa thoát ra ngoài, tức là cho đến khi trẻ ợ hơi. Không khí bị ứ đọng trong dạ dày trẻ sẽ chiếm một khoảng không gian nhất định, đây là nguyên nhân khiến trẻ bị nôn.

Sau khi ợ hơi, khí trong dạ dày thoát ra ngoài, trẻ sẽ không bị nôn nữa.

4. Không nên đặt trẻ nằm ngửa sau khi ăn xong

Thông thường, trẻ thường nằm ngửa trên giường. Nhưng sau khi ăn xong, tránh không nên để trẻ nằm ngửa, nên đặt trẻ nằm nghiêng một lúc, quan sát xem trẻ có hiện tượng bị nôn mửa hay không rồi mới đặt trẻ nằm ngửa.

quả là có thể lấy được.- Chuối nghiền nhỏ: Lấy chuối chín, bỏ vỏ, cho vào trong bát, dùng thìa inox nghiền nhỏ, trộn đều.

– Bột cá:

Làm sạch cá, bỏ nội tạng, đặt vào trong nồi hấp hoặc luộc, gỡ sạch xương cá,cho bột gia vị, nghiền nát, có thể cho vào trong nước gạo để nấu ăn.

– Đậu phụ:

Đem đậu phụ non đã hấp chính nghiền nát, cho thêm muối, đổ vào trongcháo hoặc cho vào lòng đỏ trứng.- Bột gan và bột thịt: Dùng dao băm nhỏ thịt lợn hoặc gan đã luộc chín, cho thêm gia vịvà ít nước để hấp thành khuôn thịt hoặc pate gan ăn trực tiếp, hoặc cho vào trong cháo đểăn.- Cháo gạo táo đỏ hoặc cháo ngô: Rửa sạch táo đỏ, hấp chín bỏ vỏ, nghiền nát, cho vàotrong cháo đã nấu chín hoặc trong cháo ngô, đun sôi lên ăn.- Cháo rau bột thịt: 50g thịt lợn, hai cây rau xanh, 10g dầu thực vật, xì dầu, muối tinh,gừng, rễ hành. Rau rửa sạch, nghiền nát. Đổ dầu vào trong nồi, sau khi dầu nóng, cho bộtthịt vào, đảo đều tay, cho gừng, rễ hành, cho một lượng vừa xì dầu vào cho đến khi chín.

Đem bột thịt băm nhuyễn và rau đã nghiền nát vào trong cháo đun nóng là có thể ăn được.

III. Đảm bảo dinh dưỡng để đại não trẻ phát triểnTừ tháng thứ ba trở đi, tế bào não của trẻ đã phát triển ở mức cao trào. Để thúc đẩy nãophát triển, ngoài việc đảm bảo có đủ sữa mẹ, còn phải bổ sung thực phẩm bổ não cho mẹ,vừa đảm bảo sữa mẹ đủ chất.

Gợi ý:Những thực phẩm bổ não thường dùng là: Não động vật, gan, tiết độngvật, cá, trứng gà, sữa bò, đậu tương và các sản phẩm làm từ đậu, hồ đào,vừng, lạc, các loại hạt dưa, nấm kim châm, cây hoa hiên, cải bó xôi, càrốt, cam, chuối, táo, đường vàng, kê, ngô.

IV. Phương pháp bổ sung nguyên tố vi lượng

1. Bổ sung thực phẩm có chứa nhiều sắtSau khi được ba đến bốn tháng tuổi, nguyên tố vi lượng tích trữ bên trong cơ thể về cơbản đã tiêu hao gần hết, đặc biệt là sắt tiêu hao gần như hết, nếu chỉ bú sữa mẹ hoặc sữa bòkhông thể đáp ứng được nhu cầu phát triển của trẻ.Do đó cần phải bổ sung thêm một số loại thực phẩm có chứa nhiều sắt. Lòng đỏ trứng gàlà một trong những thực phẩm tương đối lý tưởng, nó không chỉ chứa nhiều sắt, mà còn cóchứa các chất dinh dưỡng khác cần thiết ở trẻ nhỏ, dễ tiêu hóa.Thông thường có thể áp dụng các phương pháp sau để bổ sung thêm lòng đỏ trứng chotrẻ:

Lấy 1⁄4 – 1⁄2 lòng đỏ trứng đã luộc chín, dùng thìa nghiền nát, cho trứng đã nghiền vàotrong sữa bò đun sôi, quấy đều, sau khi sữa nguội là có thể dùng được.Lấy 1⁄4 – 1⁄2 lòng đỏ trứng gà sống, để thêm sữa bò và canh thịt, mỗi thứ một muôi, trộnđều, sau đó hấp cho đến khi đông lại, đợi nguội là có thể cho trẻ ăn bằng thìa.Cho trẻ ăn thêm lòng đỏ trứng gà phải từ từ từng bước, chú ý quan sát biểu hiện của trẻsau khi ăn. Hoặc trước tiên có thể thử cho trẻ ăn khoảng 1⁄4 lòng đỏ. Ba đến bốn ngày sau,nếu trẻ tiêu hóa tốt, đi đại tiện bình thường, không bị đau bụng, đi ngoài, có thể cho trẻ ăntăng lên thành 1⁄2 lòng đỏ trứng, tiếp tục quan sát một thời gian, nếu trẻ có thể thích ứngđược thì tăng lên cho trẻ ăn một lòng đỏ trứng gà.

2. Bổ sung một nửa lượng canxi cần thiếtTrẻ trong vòng sáu tháng tuổi, mỗi ngày cần 600mg canxi, trẻ trên sáu tháng tuổi mỗingày cần 800mg canxi. Thông thường, trẻ chỉ có thể hấp thụ được khoảng một nửa canxicần thiết trong thức ăn (sữa mẹ, sữa bò v.v…). Ví dụ, đối với trẻ bú hoàn toàn bằng sữa mẹ,cứ trong 100ml sữa mẹ có chứa 34mg canxi, cho dù mỗi ngày có thể ăn được 700ml sữamẹ, thì lượng canxi cũng chưa đến 250 ml. Do đó, để đáp ứng cho xương, răng trẻ pháttriển bình thường, cũng như đáp ứng nhu cầu trao đổi chất bình thường của toàn cơ thể trẻ,còn phải bổ sung thêm ở ngoài một nửa lượng canxi cần thiết ở trẻ.Có hai cách bổ sung canxi cho trẻ một là bổ sung canxi cho trẻ bằng thức ăn, ví dụ nhưbột gạo sữa dinh dưỡng, sữa pha theo công thức, sữa bột; hai là bổ sung bằng cách uốngthêm canxi, cũng là cách khá phổ biến. Như vậy, nên lựa chọn phương pháp nào cho đúng?Khi bổ sung bằng cách uống canxi, thứ nhất phải xem lượng canxi là bao nhiêu; Hai là xemđộ phân giải của thuốc, chỉ cần canxi dễ tan trong nước thì mới dễ hấp thụ; Ba là có 100% tựnhiên hay không, thuốc có an toàn không có độc chất, không tác dụng phụ hay không; Bốnlà giá thành có hợp lý hay không.

Gợi ý:Khi bổ sung Canxi bằng cách uống vẫn phải chú ý bổ sung Vitamin D,như vậy Canxi mới có thể được hấp thụ tốt, nếu không phần lớn Canxi bổsung bằng cách uống sẽ bị thải ra ngoài theo đường ruột, không phát huyđược tác dụng vốn có.

3. Phương pháp bổ sung Vitamin EVitamin E là một loại thuốc chống oxy hóa, nó có phản ứng với ion oxy tự do, có tácdụng khử gốc ôxy, ổn định tế bào, do đó có tác dụng trị đau. Vitamin C cũng là một loạithuốc chống oxy hóa, nếu dùng đúng liều sẽ có tác dụng tốt. Liều dùng Vitamin E mỗi lần 5

~ 10 mg, mỗi ngày 3 lần, thường là sau một đến hai tháng trẻ sẽ không cảm thấy đau chidưới, cơn đau hoàn toàn biến mất, sau đó dùng tiếp một đợt thuốc nữa để củng cố.

4. Tác dụng của kẽm và phương pháp bổ sung

Kẽm tuy là nguyên tố vi lượng, nhưng nó tham gia vào rất nhiều hoạt động sinh lý quantrọng, nó liên quan đến cấu thành hơn bảy mươi loại enzym, Protein và axit nucleic. Trẻmỗi ngày cần từ 3 ~ 5 mg kẽm, hàm lượng kẽm trong sữa mẹ cao hơn hàm lượng kẽmtrong sữa bò, hàm lượng kẽm đặc biệt cao trong sữa non, các thực phẩm như cá, thịt, tômcũng chứa rất nhiều kẽm, thường là trẻ không hay bị thiếu kẽm. Mẹ ăn không đủ chất vàkhông cho trẻ ăn bổ sung đúng giờ sẽ khiến trẻ bị thiếu kẽm.Thiếu kẽm sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ, trẻ biếng ăn sẽ không có cảm giácthèm ăn do thiếu kẽm, và bị phát triển chậm. Trẻ thiếu kẽm thường có biểu hiện khôngthèm ăn, phát triển chậm, dễ bị cảm, có nhiều trẻ còn hay bị loét miệng và bị đi ngoài.Trong số các trẻ bị phát hiện thiếu kẽm khi đo độ mẫn cảm vị giác có hơn một nửa khôngmẫn cảm với bốn loại vị cơ bản là ngọt, chua, đắng, mặn. Thiếu kẽm còn ảnh hưởng xấu đếnchức năng miễn dịch. Do đó, trẻ thiếu kẽm dễ bị ho, sốt, tiêu chảy v.v…

Việc quan trọng để ngăn ngừa thiếu kẽm là ăn uống đủ chất. Hàm lượng kẽm trong cácsản phẩm sữa không đủ, bà mẹ cho con bú cần phải chú ý bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡngvà cho trẻ ăn bổ sung đúng giờ. Đây là biện pháp chính để phòng chống thiếu kẽm ở trẻ.Phải đảm bảo cung cấp đủ các thực phẩm như thịt, cá, trứng, ngũ cốc và rau xanh. Trẻ trênbốn tháng tuổi có thể cho ăn bổ sung cà chua, cá, tôm, bột thịt, bánh nhân lòng đỏ trứngv.v… Những thực phẩm này có chứa rất nhiều kẽm.

5. Tỷ lệ canxi, phốt-pho và phương pháp bổ sungCanxi – phốt-pho đầy đủ có thể thúc đẩy phát triển, củng cố xương, răng. Canxi trong cơthể trẻ chiếm khoảng 0,8%, sau khi thành niên là 1,5%, mỗi ngày trẻ cần khoảng 600mgcanxi, 400mg phốt-pho. Trẻ thiếu canxi-phốt-pho có thể mắc chứng còi xương, răng pháttriển bất thường, không đúng quy luật, máu đông, dễ bị chảy máu không cầm v.v…Tỷ lệ canxi và phốt-pho 1:1,5 là tương đối phù hợp. Canxi và phốt-pho quá cao hoặc quá

thấp đều ảnh hưởng đến hấp thụ của trẻ. Tỷ lệ tương đối phù hợp với bà mẹ cho con bú, trẻbú hoàn toàn sữa mẹ mắc chứng còi xương nhiều hơn trẻ bú sữa ngoài. Bột sữa công thứccủa trẻ thông thường có tỷ lệ canxi – phốt-pho = 1,2:1. Vitamin D có thể điều chỉnh chuyểnhóa canxi – phốt-pho, thúc đẩy răng, xương phát triển ở trẻ, đặc biệt quan trọng đối với trẻtrong giai đoạn phát triển. Có thể nói, lượng canxi nạp vào cơ thể cũng sẽ ảnh hưởng đến tỷlệ canxi – phốt-pho trong cơ thể trẻ.

Gợi ý:Khi cho trẻ trên sáu tháng ăn bổ sung cần chọn các loại thực phẩm họđậu, sữa bò, trứng, vỏ tôm, rau xanh v.v…, cho trẻ ăn thức ăn chế biến từcác nguyên liệu này như cháo sữa bò, cháo ngô sữa bò, mỳ trứng gà, bộtthịt bò đậu, bánh đậu phụ, nước rau cải bó xôi v.v… đều là nguồn cungcấp Canxi, phốt-pho tốt.

6. Phương pháp bổ sung nguyên tố vi lượng i-ốt, Đồng, SeleniumThiếu i-ốt có thể gây phù tuyến giáp, là nguyên nhân của bệnh “bướu cổ”. Bà mẹ mangthai thiếu i-ốt khiến thai nhi phát triển chậm, thiểu năng trí tuệ hoặc đần độn, thậm chí bịbệnh Down. Thông thường, i-ốt có trong thủy hải sản, hải đới và táo tía. Hiện nay, người tathường dùng i-ốt để làm muối ăn, tỷ lệ bệnh do thiếu i-ốt đã giảm đi rất nhiều, người lớncần 100 ~ 200 mg i-ốt mỗi ngày, bà mẹ mang thai, sản phụ, bà mẹ cho con bú cần phải bổsung một lượng i-ốt cần thiết.Đồng có tác dụng tạo máu, và góp phần giúp trẻ phát triển. Mỗi ngày trẻ cần khoảng0,05 ~ 0,1 mg trên 1kg cân nặng. Thông thường, đồng có trong gan, thịt, cá, họ đậu, quả cóvỏ, con hàu. Nếu bị tiêu chảy kéo dài, ruột hấp thụ kém, bị bệnh nên không thể ăn hay bịbệnh thiếu đồng. Trẻ thiếu đồng có biểu hiện như giảm bạch cầu, thiếu máu, mặt nhợtnhạt, chán ăn, tiêu chảy, phù gan, phát triển chậm. Có thể cho trẻ uống dung dịch đồngsunphat 1%m, mỗi ngày uống 1 ~ 2 ml.

Selenium là thành phần quan trọng của thực phẩm động vật, chức năng chính của nó làtham gia vào quá trình trao đổi chất. Hàm lượng Selenium trong người bị bệnh cơ tim,bệnh đần độn, bệnh đần độn bẩm sinh thấp, còn hàm lượng Selenium của trẻ bị bệnh tiểuđường lại tăng cao. Hiện nay, có báo cáo nói rằng Selenium có tác dụng ngăn chặn sinh vậtgây ung thư.Ngoài ra, Natri, Kali, Clo, Magie cũng đều là chất khoáng không thể thiếu đối với cơ thểcon người, nó và enzym, hoóc-môn, Vitamin axit nucleic đảm bảo quá trình trao đổi chất.

V. Thực phẩm bảo vệ mắt trẻ

1. Ăn nhiều thức ăn dưỡng gan bổ mắtGan lợn: Có thể bổ gan, ích máu, làm sáng mắt, cứ 100g gan lơn có chứa A8700 đơn vịquốc tế Vitamin. Có thể lấy 100g gan lợn, 50g cẩu kỷ tử, hấp chín rồi uống canh và ăngan.Gan dê: Vị ngọt đắng, tính mát, có thể ích máu, bổ gan, làm sáng mắt, gan dê núi là tốtnhất. Nấu chín gan dê, cho thêm rau cải bó xôi, đập trứng gà vào. Có thể dùng món nàythường xuyên.Khoai lang: có thể dùng nấu cháo, hấp, ăn thường xuyên.Cá trích: Là loại cá có giá trị dinh dưỡng cao trong các loại cá, bổ gan thận, có tác dụnglàm sáng mắt, có thể làm thực phẩm ăn thường xuyên.Trai: Vị ngọt đắng, tính hàn, nhuận âm, ích máu, làm sáng mắt, dùng rán hoặc nấucanh.

Bào ngư: Tuy gọi là cá nhưng thực chất nó vẫn là một loại động vật thân mềm. Bào ngưđược dùng làm thuốc vì giá trị dinh dưỡng của nó cao hơn các loại khác, vỏ của nó đượcgọi là “thạch quyết minh”, có tác dụng bình gan sáng mắt. Khi dùng nghiền thành bột,hấp với gan lợn có tác dụng bổ mắt.

2. Thường xuyên ăn thức ăn có cà rốtCà rốt là tiền thân của Vitamin A, nó có thể chuyển biến thành Vitamin A trong cơ thểcon người. Vitamin có chức năng duy trì giác mạc của mắt bình thường, không làm khôgiác mạc, tăng cường khả năng thị giác của mắt trong môi trường bóng tối. Loại thực phẩmloại này gồm có đậu xanh, bí đỏ, cà chua, cà rốt, rau xanh v.v…

3. Ăn nhiều thực phẩm có chứa Vitamin B2Vitamin B2 đảm bảo trao đổi giữa giác mạc và võng mạc. Nếu thiếu Vitamin B2 sẽ dễ bịchảy nước mắt và làm đỏ mắt, ngứa mắt v.v… Thông thường, thịt lợn, đậu, rau xanh có chứanhiều Vitamin B2, vì vậy nên ăn nhiều các loại này.

4. Phải thường xuyên ăn thực phẩm có chứa nhiều Vitamin ANếu thiếu Vitamin A sẽ bị khô giác mạc, sợ ánh sáng, chảy nước mắt, người thiếuVitamin A nặng sẽ khiến màng kết mạc trở nên dày hơn, thậm chí là bị quáng gà hoặc mù.Lòng đỏ trứng gà, sữa dê, sữa bò, bơ, cải bó xôi, hồ tiêu, khoai lang đỏ và các loại quả nhưcam, hạt hạnh nhân, cà chua đều chứa nhiều Vitamin A. Cần ăn nhiều các thực phẩm loạinày để bổ sung Vitamin A.

5. KhácThực phẩm chứa Vitamin C cũng có tác dụng bổ mắt, do đó, cần phải bổ sung thêm thựcphẩm chứa nhiều Vitamin C trong bữa ăn hàng ngày. Ví dụ, các loại rau xanh và hoa quảnhư hồ tiêu, dưa chuột, bắp cải, củ cải, táo tươi, lê, cam v.v…Canxi cũng tốt cho mắt, canxi có tác dụng loại bỏ cảm giác căng thẳng, mệt mỏi ở mắt.Ví dụ như rau quả họ đậu, rau xanh, bì lợn có chứa tương đối nhiều canxi. Các món ăn nhưcanh sườn, sườn chua ngọt, cá trích v.v… có thể làm gia tăng hàm lượng canxi.Một số thực phẩm kể trên có tác dụng bảo vệ mắt trẻ nhỏ rất tốt, cần phải ăn nhiều cácloại thực phẩm đó, đặc biệt là khi mắt kém càng phải chú ý nhiều hơn. Còn các thức ănnóng không có lợi cho mắt, tốt nhất là nên hạn chế sử dụng.

VI. Tại sao đột nhiên trẻ lại không thích ăn sữa bò?Trẻ đột nhiên không thích ăn sữa bò, có thể là do giai đoạn trước trẻ ăn quá nhiều, cơthể quá tải nên trẻ sợ. Giai đoạn này, bà mẹ không nên miễn cưỡng bắt trẻ ăn sữa, mà cóthể cho trẻ uống nhiều nước và nước hoa quả, đợi đến khi trẻ thèm ăn sữa mới cho ăn lại.Chỉ cần một ngày trẻ có thể uống từ 100 ~ 200 ml. Sau 7 ~ 10 ngày, cơ thể trẻ đã được nghỉngơi, trẻ lại sẽ thích ăn sữa.

VII. Nguyên nhân trẻ không chịu búĐầu núm vú không thích hợp: Nếu đầu núm vú của bình sữa quá cứng, hoặc lỗ hút mặttrên quá nhỏ, mút tốn sức, nên trẻ ghét bú.Bị bệnh: Trẻ mắc một vài bệnh nào đó, ví dụ như bệnh đường ruột v.v… đều ghét bú,ghét ăn ở các mức độ khác nhau.Tắc mũi: Sau khi bị tắc mũi, trẻ sẽ thở bằng miệng, nếu bú sữa, trẻ sẽ gặp khó khăn khithở, cho nên trẻ sẽ không bú nữa.Khiếm khuyết sinh lý: Khiếm khuyết sinh lý như môi, hở hàm v.v… sẽ gây khó khănkhi bú, cũng khiến trẻ có hiện tượng không bú.

Viêm nhiệt miệng: Vì bị đau nên trẻ sợ không bú, nguyên nhân là niêm mạc khoangmiệng của trẻ vẫn còn non, tiết ít nước bọt, khoang miệng tương đối khô, thêm vào đó làcọ sửa khoang miệng không đúng hoặc do ăn đồ ăn quá nóng, nên thường khiến cho trẻbị viêm nhiễm khoang miệng. Sau khi bị viêm khoang miệng, bú sẽ bị đau, nên trẻ sợbú sữa.Trẻ sinh non: Nguyên nhân là do cơ thể trẻ chưa phát triển hoàn thiện, cơ năng búthấp, nên thường có hiện tượng ngậm đầu núm vú nhưng không mút sữa.

PHẦN BỐN: CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CỦA TRẺ

TỪ BA ĐẾN BỐN THÁNG TUỔI

I. Đặc điểm dinh dưỡng của trẻ bốn tháng tuổiLượng thức ăn của trẻ bốn tháng tuổi có sự khác biệt tương đối lớn. Lúc này, vẫn nênkiên trì cho trẻ bú 100% sữa mẹ. Nếu như cho trẻ bú sữa ngoài, mỗi cữ sữa trẻ thường chỉbú 150ml là no, còn có trẻ phát triển nhanh thì lượng sữa bú vào nhiều hơn rõ rệt so với trẻcùng tháng tuổi, lượng sữa một cữ sữa của trẻ là 200 ml hoặc nhiều hơn, có trẻ còn phảicho ăn bổ sung thêm bánh. Khi trẻ có thể ăn một chút cháo, nên giảm bớt lượng sữa củatrẻ, nhưng đối với trẻ tầm này, sữa vẫn là thực phẩm chính.Đối với trẻ bốn tháng tuổi, ngoài sữa, cần bổ sung thêm thực phẩm dạng bán lỏng, để tậpdần cho trẻ có thể ăn cháo hột to, ăn cơm vào những tháng tiếp theo. Cùng với sự gia tăngcủa tháng tuổi, enzym tiêu hóa bài tiết trong dạ dày trẻ cũng nhiều lên, có thể cho trẻ ănmột vài thức ăn dạng bột. Đầu tiên cho trẻ ăn 1 ~ 2 thìa, sau đó tăng dần, nếu trẻ khôngthích ăn thì không nên ép trẻ.

Trẻ bốn tháng tuổi dễ bị thiếu máu, đó là do nguyên tố vi lượng sắt từ cơ thể mẹ cungcấp đã bị tiêu hao hết, nếu trẻ ăn thức ăn đơn giản sẽ không đáp ứng được nhu cầu pháttriển cơ thể trẻ. Do đó, cần phải gia tăng thức ăn có chứa sắt trong bữa ăn phụ của trẻ, ví dụnhư lòng đỏ trứng gà, bởi vì lòng đỏ trứng gà chứa rất nhiều sắt, có thể cho thêm lòng đỏtrứng gà vào trong sữa bò, trộn đều lên, hấp chín cho trẻ ăn.Để bổ sung Vitamin C cho trẻ, ngoài việc tiếp tục cho trẻ uống nước hoa quả và rau tươi,còn có thể làm một ít rau xay và hoa quả xay cho trẻ ăn. Trong quá trình cho trẻ ăn bổsung, cần chú ý xem trẻ có đại tiện bình thường không, có thích ứng được hay không, mỗilần cho trẻ ăn bổ sung đừng nên cho ăn quá nhiều, chỉ nên vừa đủ, sau tăng dần để hệthống tiêu hóa của trẻ có thể thích ứng.Thời gian cho trẻ ăn là 6:00, 10:00, 14:00, 18:00, 22:00, ban đêm có thể không cho trẻăn, cho trẻ uống thêm nước hoa quả tươi giữa hai lần ăn. Mỗi một ngày cho trẻ uống canxiba lần, mỗi lần hai viên. Mỗi ngày uống dầu gan cá hai lần, mỗi lần 2 ~ 3 giọt.

II. Phương pháp chế biến thức ăn bổ sungNước dưa hấu: Lấy dưa hấu, bỏ hạt, dùng muỗng nhỏ nghiền nát dưa hấu. Dưa hấu cótác dụng lợi tiểu.Chuối: Lấy một lượng chuối và sữa vừa đủ cho vào nồi nấu, vừa nấu vừa quấy đều, múcra bát cho một chút đường cát. Món này có tác dụng chống táo bón ở trẻ rất tốt.Nước lê: Rửa sạch lê, gọt vỏ, cắt thành lát mỏng, cho đường và nước vào nấu chín, rồiđem nghiền nát. Món này có tác dụng trị ho cho trẻ.Nước cam: Lấy cam, gọt bỏ vỏ và hạt, thêm chút đường, sau đó cho vào trong máy quaysinh tố rồi đánh nhỏ mịn. Trong dung dịch nước cam có chứa rất nhiều Vitamin C.Bột cá: Cá làm sạch, bỏ vây, nội tạng, cho cá vào trong nồi, cho thêm nước, một ít muối,hành, gừng, rượu, hấp nhỏ lửa trong vòng 30 phút. Sau đó vớt cá ra, gỡ xương, lấy thịt cánghiền nhỏ. Cũng có thể hấp cá khoảng từ 20 ~ 30 phút rồi lấy ra, gỡ xương, dùng mộtmuỗng nhỏ nghiền nhỏ thịt cá. Vì trẻ chưa từng ăn cá bao giờ, nên lúc đầu chỉ nên cho trẻăn khoảng 4 ~ 6g. Cũng có thể chỉ cho thịt cá nghiền nhỏ nấu với nước rồi cho trẻ ăn, hoặccho cá vào trong nước gạo, cháo loãng quấy đều lên cho trẻ ăn. Đợi khoảng 3 ~ 4 ngày sau,nếu trẻ không có phản ứng thì dần tăng lượng cá lên thành 10 ~ 15g. Đợi 3 ~4 ngày sau khitrẻ thích ứng được, lại tiếp tục tăng dần lượng lên. Lượng tăng lên phải căn cứ vào nhu cầuăn và tình trạng phân của trẻ. Chỉ cần không có phản ứng bất thường là có thể tăng lượng.

III. Không được cho trẻ ăn sữa bò trộn lẫn canxiVới trẻ bú sữa ngoài, sau ba tháng tuổi nên bắt đầu bổ sung thêm viên canxi hoặc bộtcanxi cho trẻ, để tránh trẻ bị thiếu canxi. Nhưng phải hết sức chú ý canxi dạng bột khôngđược cho ăn cùng với sữa. Bởi vì canxi dạng bột có thể làm sữa bò kết tủa, ảnh hưởng đếnhấp thụ sữa và canxi và rất phản khoa học.

IV. Làm thế nào để cho trẻ ăn thêm lòng đỏ trứng gà?Để bổ sung thức ăn chứa nhiều sắt, dễ hấp thụ cho trẻ 3 ~ 4 tháng tuổi thì lòng đỏ trứnggà chính là một trong những thực phẩm thích hợp nhất. Khi bắt đầu, hãy luộc chín trứnggà, lấy 1⁄4 lòng đỏ trứng gà cho vào trong nước nóng hoặc nước gạo dầm nát, lấy thìa nhỏmúc cho trẻ ăn để luyện cho trẻ khả năng ăn bằng thìa. Sau khi ăn, nếu trẻ không bị tiêuchảy thì tiếp tục tăng lượng lòng đỏ trứng gà.

Khi trẻ được một tuổi, có thể cho trẻ ăn nguyên một lòng đỏ trứng gà. Đối với trẻ bú sữangoài, tốt nhất là nên cho trẻ ăn thêm lòng đỏ trứng gà khi trẻ được hai tháng tuổi, đầutiên, lấy 1/8 lòng đỏ trứng gà cho vào trong sữa đánh nhỏ thành dạng sệt, sau đó, đổ lượngsữa trẻ ăn cả ngày vào dung dịch sữa – lòng đỏ trứng gà kể trên, quấy đều, cho vào đunnóng, tiếp tục hâm nhỏ lửa từ 5 ~ 10 phút, chia thành nhiều lần cho trẻ ăn. Nếu thấy trẻthích nghi được, có thể tăng dần lượng lòng đỏ trứng gà, cho đến khi nào trẻ ăn đượcnguyên cả một lòng đỏ trứng thì dừng.Phải chú ý, sau khi đun nóng sữa phải để nguội và bảo quản trong tủ lạnh, mỗi lần ănlấy ra lượng vừa đủ rồi hâm nóng lại để tránh trẻ ăn phải sữa bò bị biến chất, gây ra hậu quảkhông tốt. Ngoài ra, phải chú ý không được tăng lượng lòng đỏ trứng một cách tùy tiện.

V. Bà mẹ cho con bú phải ăn nhiều thực phẩm bổ nãoTừ khi sinh ra cho đến khi được một tuổi, não trẻ phát triển rất nhanh, bình quân mỗitháng trọng lượng não tăng khoảng 1g. Trong vòng từ 1 ~ 6 tháng tuổi, bình quân mỗi phúttrẻ tăng thêm hàng chục nghìn tế bào não, đây cũng chính là giai đoạn sinh trưởng cao tràothứ hai của tế bào não trẻ sau khi sinh được ba tháng. Vì vậy, vì mức độ thông minh của trẻ,mỗi bà mẹ cho con bú cần phải chú ý đến dinh dưỡng để nâng cao chất lượng sữa mẹ.Dưới đây, chúng tôi giới thiệu vào loại thức ăn cho các bà mẹ cho con bú, các loại thứcăn này rất bổ cho não trẻ:Não, gan động vật, cá, trứng gà, sữa bò, thực phẩm họ đậu và chế phẩm từ đậu, táo, cam,chuối, đào, vừng, lạc, các loại hạt, cà rốt, cây hoa hiên, rau cải bó xôi, gạo, ngô v.v…

VI. Phải làm thế nào khi trẻ sốt và biếng ăn?Khi trẻ bị sốt, chức năng ruột, đường tiêu hóa bị rối loạn, hoạt động thần kinh giao cảmtăng mạnh, bài tiết enzym tiêu hóa giảm. Tuy lượng thức ăn nạp vào ít đi, nhưng thời gianlưu lại trong đường tiêu hóa rất lâu. Nên trẻ rất lười ăn, có khi còn bị chướng bụng.

Nên giảm bớt lượng thức ăn của trẻ, chia nhỏ cho trẻ ăn thành nhiều bữa. Nên cho trẻăn đồ ăn loãng, nhạt, có lợi cho tiêu hóa, cho thêm một ít nước gạo hoặc nước vào trongsữa bò, chú ý cho trẻ uống nhiều nước, để đảm bảo cung cấp nước đầy đủ cho cơ thể. Khi bịsốt, nước trong cơ thể bị tiêu hao nhiều, nếu không chú ý cho trẻ uống nước, không nhữngkhông giảm được sốt mà còn dễ gây ra rối loạn chức năng trao đổi chất. Khi bổ sung nướccho trẻ, đặc biệt phải chú ý cho trẻ uống thêm nước hoa quả tươi hoặc nước rau.

PHẦN NĂM: CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CỦA TRẺ

TỪ BỐN ĐẾN NĂM THÁNG TUỔI

I. Đặc điểm dinh dưỡng của trẻ năm tháng tuổiQuan niệm ngày nay cho rằng chỉ bú sữa mẹ đơn thuần không thể đáp ứng được nhucầu phát triển tăng trưởng của trẻ vì trẻ năm tháng tuổi thường gia tăng hoạt động nênnăng lượng cần thiết cũng tăng theo.Nếu phải cho trẻ ăn ngoài, thức ăn chính của trẻ năm tháng tuổi chủ yếu là sữa, mỗi cữcó thể uống được 200ml, ngoài việc bổ sung thêm bánh, bột bổ sung dưỡng chất, còn có thểthêm một lòng đỏ trứng gà.Nếu trẻ đi đại tiện bình thường, có thể tăng lượng cháo và rau xay, thử cho trẻ ăn ítbánh quy để luyện phản xạ nhai, thúc đẩy quá trình mọc răng và phát triển xương hàm.

Có thể dùng cá làm thức ăn bổ sung như cá chim, cá ngừ vây vàng v.v… Những loại cánày nhiều thịt, ít xương, tiện chế biến. Trong thịt cá có chứa rất nhiều phốt-pholipid vàProtein, dễ tiêu hóa, thích hợp với nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ phát triển, nên chọn mualoại cá tươi ngon.Về thời gian cho ăn, vẫn bố trí như những tháng trước, chỉ có điều cần tăng thêm lượngvà chủng loại. Mỗi ngày vẫn cho trẻ uống ba lần dầu gan cá, mỗi lần hai giọt, canxi mỗi ngày2 ~ 3 lần, mỗi lần 2 viên.

II. Thức ăn của bà mẹ cho con bú, có con khóc đêmTrẻ khóc đêm là chỉ khóc hàng đêm, thậm chí là trẻ có thể khóc từ đêm cho đến tậnsáng, có trẻ khóc định giờ hàng đêm, sau khi khóc lại ngủ yên giấc, gọi là “chứng khóc dạđề”.Trẻ khóc dạ đề có ảnh hưởng lớn tới việc ăn uống của bà mẹ, nếu như bà mẹ thường

xuyên ăn món xào hoặc thực phẩm cay, nhiều dầu, dễ sinh nhiệt bên trong, khiến cho sữatrẻ bú đi vào trong cơ thể trẻ, làm cho tà nhiệt công tâm. Đông y cho rằng tâm nhiệt làdương, dương là chính khí của cơ thể con người, bởi vì chính khí của trẻ chưa đủ, chí dươngtất dương suy, dương suy tất không có sức lực, chính khí không thể thắng được tà nhiệt, tànhiệt công tâm khiến cho ban đêm trẻ cảm thấy buồn bực, mệt mỏi và khóc, thích ngủ nằmngửa, nếu trẻ nhìn thấy ánh sáng hoặc lửa thì ban đêm khóc càng dữ dội, đồng thời còn cóthể thấy được trẻ buồn bực, khí trong miệng nóng, lòng bàn tay tỏa nhiệt, mặt đỏ môi đỏ, đitiểu tiện ít, táo bón v.v… Có bà mẹ lại thích ăn đồ lạnh, tính hàn nên cũng sẽ ảnh hưởngđến dương khí của trẻ, làm cho hàn tà xâm nhập. Đông y cho rằng tạng thuộc âm, ban đêmthì âm thịnh, âm thịnh ắt dương suy, dương suy ắt khiến cho âm hàn ngưng trệ, hoặcdương bị âm hàn chiếm, không thể phát triển được, biểu hiện ban ngày là thích ngủ quỳsấp, tứ chi thiếu nhiệt, sắc mặt nhợt nhạt, khí trong miệng lạnh v.v…, biểu hiện ban đêm làkhóc không ngớt, thường là chỉ ngủ sau ba giờ sáng.

III. Chế biến đồ ăn cho trẻ

1. Cháo rau xanhHai thìa gạo, 120 ml nước, một thìa nước rau xanh đã được lọc (có thể là rau cải bó xôi,cải dầu, cải bắp v.v…), vo sạch gạo, thêm một lượng nước vừa đủ ngâm từ 1 ~ 2 tiếng, sau đóđun nhỏ lửa trong vòng từ 40 ~ 50 phút, cho nước rau vào, nấu tiếp 10 phút nữa là được.

2. Cháo canhCho hai thìa gạo vào vo sạch rồi ngâm 30 phút trong nồi, sau đó cho khoảng 120mlnước canh thịt hoặc canh cá vào nấu, sau khi nước sôi tiếp tục hâm nóng từ 40 ~ 50 phút làđược.

3. Cháo sữaLấy 1/3 cốc sữa bò, 1/4 lòng đỏ trứng cho trong nồi quấy đều, cho tiếp một thìa bột mỳ,vừa đun vừa quấy đều, sau khi nước sôi đun nhỏ lửa đến dạng sệt dính thì tắt lửa, cho thêmmột ít đường cát là ăn được.

4. Mỳ ống cà chuaLấy ba thìa mỳ ống đã nghiền nhỏ và muỗng canh thịt cho vào trong nồi, đun, sau đócho thêm một thìa to nước cà chua vào, đun cho đến khi nào bột mỳ ống mềm là được.

IV. Pha sữa bột như thế nào?Khi lựa chọn mua sữa bột cho trẻ, không chỉ dựa vào quảng cáo mà trước hết phải chú ýxem hạn sử dụng, hai là xem loại nào dễ tiêu hóa nhất. Tốt nhất nên lựa mua sản phẩm củacác nhà máy lớn có danh tiếng, không nên thay đổi nhãn sữa thường xuyên.Các bà mẹ không nên lầm tưởng rằng trẻ ăn càng nhiều càng tốt, cân nặng tăng quánhiều cũng là một dấu hiệu phát triển không tốt ở trẻ.Sữa bột đã được tiệt trùng trước khi xuất xưởng, trong khi pha loãng sữa và cho trẻ ăn,các bà mẹ phải chú ý không được để sữa bị nhiễm khuẩn, trước khi pha sữa, các bà mẹ phảirửa sạch tay, lau tay bằng khăn bông, dụng cụ pha sữa phải luộc khử trùng hàng ngày, vàđược đựng trong hộp để tránh bị ruồi muỗi đậu vào, bình sữa sau khi dùng xong phải đổhết sữa thừa, rửa sạch, không để bình còn sữa qua đêm.Dùng muỗng đong sữa theo đúng quy định, không nên tự ý gia tăng nồng độ sữa, làmnhư vậy dễ ảnh hưởng tới hệ tiêu hóa của trẻ. Bảo quản sữa vào trong tủ lạnh, khi muốn chotrẻ ăn tiếp thì phải đun lại trước khi cho trẻ ăn.

V. Những sai lầm khi cho trẻ ănThức ăn hạt nhỏ. Khả năng nhai của trẻ kém, vận động lưỡi cũng không nhịp nhàng,thức ăn hạt nhỏ dễ bị chui vào khí quản, gây nguy hiểm cho trẻ. Ví dụ như đậu phộng,ngô, đậu tương v.v… là những thứ không nên cho trẻ ăn, cho dù là có người lớn trôngchừng thì tốt nhất cũng không nên cho ăn.Thực phẩm có xương. Không nên cho trẻ ăn sườn, răm xương của sườn dễ đâm vàoniêm mạc khoang miệng trẻ, hoặc kẹt lại trong cổ họng trẻ. Nếu ăn cá, tốt nhất nên chotrẻ ăn cá biển, người lớn phải làm sạch xương, nghiền nhỏ rồi mới cho trẻ ăn, khi chotrẻ ăn tôm phải làm sạch vỏ.Ăn ít các thức ăn khó tiêu hóa. Ví dụ như đậu chiên, cà rốt sống, khoai tây v.v…Không ăn thức ăn quá mặn, ví dụ như dưa leo chua, trứng muối v.v… Đồ ăn của trẻ nênlàm vị nhạt.Không ăn đồ ăn có nhiều dầu mỡ. Ví dụ như thịt mỡ, dầu v.v…Không ăn đồ ăn mất vệ sinh. Đặc biệt là quà vặt ở ngoài đường.Không dùng thực phẩm có chất kích thích, ví dụ đồ uống có cồn, cà phê, cacao, trà đặcv.v…

VI. Không nên cho trẻ uống mật ongMật ong là một loại thuốc bổ, rất nhiều người lớn thích cho thêm mật ong vào sữa chotrẻ.

Nghiên cứu cho thấy, trẻ dưới một tuổi không nên cho ăn mật ong. Bởi vì trong đất vàbụi thường có một loại vi khuẩn botulinum khô, trong quá trình lấy mật, có khả năng ongđã mang theo loại vi khuẩn này vào trong tổ. Khả năng phòng chống bệnh của trẻ kém, dễbị trúng độc loại độc tố này. Ngoài ra, bên trong mật ong còn có hoóc-môn, nếu dùng lâudài có thể làm cho trẻ phát triển giới tính sớm. Để trẻ phát triển khỏe mạnh, không nêncho trẻ dưới một tuổi ăn mật ong.

PHẦN SÁU: CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CỦA TRẺ

TỪ NĂM ĐẾN SÁU THÁNG TUỔI

I. Đặc điểm dinh dưỡng của trẻ sáu tháng tuổiVì sức khỏe của trẻ, hy vọng các bà mẹ hãy cho trẻ bú cho đến khi trẻ được sáu thángtuổi.Nếu điều kiện không cho phép, có thể cho trẻ bú thêm sữa ngoài, lượng sữa không tăngthêm, mỗi ngày cho trẻ ăn từ 3 ~ 4 lần, mỗi lần cho ăn khoảng từ 150 ~ 200ml, giờ cho trẻăn các bữa lần lượt như sau: 6:00, 11:00, 17:00, 22:00. Vào lúc 9:00 ~ 10:00 và 15:0

22 views