ĐẾN BỆNH VIỆN ĐẺ NGAY NẾU BẠN GẶP NHỮNG TRIỆU CHỨNG NÀY

Trong giai đoạn đang mang thai, bạn phải luôn chú ý đến các triệu chứng báo trước sinh. Khi gần đến thời gian dự định sinh,bác sĩ sẽ quan sát mức độ mở rộng của đầu tử cung, cũng như vị trí của thai nhi để phán đoán khoảng bao lâu nữa bạn sẽ sinh. Nhưng chẳng ai có thể biết một cách chính xác thời điểm sinh. Vậy các sản phụ phải làm thế nào mới có thể biết được mình đã cần phải đi bệnh viện hay chưa?

I. Triệu chứng sinh nở

Khi đến gần ngày sinh, bạn phải luôn chú ý các phản ứng về mặt sinh lý, chuẩn bị đón em bé chào đời!

Bạn luôn chú ý đến các triệu chứng báo trước sinh. Khi gần đến thời gian dự định sinh,bác sĩ sẽ quan sát mức độ mở rộng của đầu tử cung, cũng như vị trí của thai nhi để phán đoán khoảng bao lâu nữa bạn sẽ sinh. Nhưng chẳng ai có thể biết một cách chính xác thời điểm sinh. Vậy các sản phụ phải làm thế nào mới có thể biết được mình đã cần phải đi bệnh viện hay chưa?

1. Triệu chứng trước khi sinh

Khi gần đến ngày sinh, đa số các sản phụ sẽ có các triệu chứng dưới đây:

Đáy tử cung hạ thấp.

Thai nhi bắt đầu thấp xuống. Vì thế, thai phụ sẽ cảm thấy nhẹ nhàng khi hít thở, dạ dày không còn bị chèn ép nữa, cảm giác rất thoải mái, nhu cầu ăn uống cũng tăng lên.

Phần bụng giãn nở.

Còn gọi là cơn đau trước, đó là vì tử cung mẫn cảm, chỉ cần hơi chịu kích động là dễ dàng tạo thành co bóp. Có khi còn có cảm giác đau đớn và là những cơn đau không theo quy tắc nào cả, thậm chí cảm thấy đau vùng eo lưng.

Thường xuyên tiểu tiện.

Đó là do phần đầu của thai nhi hạ thấp xuống chèn vào bàng quang gây nên. Đặc biệt là vào ban đêm, thai phụ phải dậy năm ba lần để đi tiểu, điều này chứng tỏ ngày sinh đã đến rất gần.

ba bau huyet ap

Thai cựa giảm dần.

Đó là vì phần đầu thai nhi hạ thấp xuống đến khoang xương chậu nên thai khó cựa quậy.

Đùi sưng phồng.

Đùi hoặc chỗ gần bàng quang có cảm giác sưng phồng, thậm chí còn đau đến mức đi lại rất khó khăn.

Dịch âm đạo tiết ra tăng nhiều.

Chủ yếu là chất tiết ra ở phần cổ tử cung tăng lên, hơn nữa lại có trạng thái sệt dính, tác dụng của nó là làm trơn đường sản, để khi sinh, thai nhi dễ dàng đi qua.

Không tăng cân.

Trước kia vốn tăng cân liên tục nay không còn tăng nữa, thậm chí có khi còn giảm đi.

Gợi ý:

  • Bất kỳ thai phụ nào khi thấy xuất hiện các triệu chứng như trên đều cần phải ý thức được rằng em bé sắp chào đời, phải làm tốt công tác chuẩn bị ở tất cả các phương diện.
  • Trước tiên cần bảo đảm ngủ đầy đủ và ăn uống nhiều, để có đủ sức khỏe phối hợp với các bác sĩ sản khoa sao cho mẹ tròn con vuông.
  • Trong ăn uống, cần ăn các thực phẩm có độ đạm cao và lượng calo cao, phải chú ý ăn các thực phẩm dễ tiêu hóa như sữa, mì trứng gà, canh xương, cháo, v.v…

2. Triệu chứng sinh

Khi gần đến ngày sinh, trong dịch âm đạo tiết ra có lẫn một ít máu. Đó là do tử cung co lại khiến cửa tử cung hơi căng ra một chút, phần bị căng vì thế mà rách chảy máu. Tuy không cần phải lo lắng nhưng cũng cần phải chuẩn bị đồ đạc cho ngày sinh.

II. Khi nào nhập viện?

0 exU F1BV6qua3OtQ

Sản phụ nhập viện sớm quá không hề có lợi, nhưng đi viện muộn quá thì cũng rất phiền phức. Chính vì vậy, việc phán đoán thời điểm nhập viện cần phải dựa trên tình trạng sức khỏe của thai phụ.

Khi nhập viện, bác sĩ sẽ hỏi các thông tin như thời gian bắt đầu các cơn đau có quy luật và quá trình diễn ra tiếp sau đó, thời gian phát hiện sớm nhất dịch tiết ra có màu đỏ nhạt hoặc màu nâu, lưu lượng của chúng ra sao, tình trạng sau đó thế nào, thời gian và tình hình sau đó (tiếp tục ra và màu sắc biến đổi), thời gian ra máu nhiều, lưu lượng và tình trạng ra máu sau đó thế nào, v.v…

1. Tiêu chuẩn nhập viện

Khi không có hiện tượng bất thường, thì sau khi bắt đầu có các cơn đau theo quy luật hoặc bị vỡ ối hoặc ra máu bất thường, bạn phải lập tức nhập viện.

Mangthai Giai toa nhung lo lang me bau khong biet hoi ai P2 2018.09.21 Khanh Van 4

Bắt đầu các cơn đau

Khi sản phụ sinh con đầu lòng mà cứ cách 10 phút tại vùng bụng lại xuất hiện cơn đau có tính quy luật thì lập tức nhập viện. Khi sản phụ sinh con thứ hai cứ cách 10~20 phút lại đau.

Vỡ ối

Cần lập tức nhập viện. Khi đó có thể dùng bông vệ sinh sạch để hút nước, có gắng nâng cao phần eo lưng, nhớ không được đi tắm

Ra máu nhiều

Khi máu ra nhiều, có lẫn cục máu hoặc liên tục ra máu.

Bụng đau dữ đội hoặc xảy ra các hiện tượng bất thường khác.

2. Những điều cần chú ý trước khi nhập viện

Trước khi nhập viện, tranh thủ lúc cơn đau chưa dữ dội, nên tắm rửa cho người sạch sẽ.Không nên trang điểm, đặc biệt là tô son hoặc sơn móng tay móng chân, bởi vì màu sắc thực của môi và móng chân móng tay có thể là cơ sở để phán đoán tình trạng sức khỏe của thai phụ.

III. Lựa chọn phương thức sinh nở

1. Sinh qua đường âm đạo – đường sản là phương thức sinh thông thường

Với điều kiện thông thường, thai nhi đều đi qua đường sản, chỉ khi xuất hiện dấu hiệu bất thường mới tiến hành đẻ mổ. Có sản phụ không hiểu rõ đặc điểm của hai dạng sinh đẻ này, đến khi lên giường đẻ, đáng lẽ phải đẻ mổ thì không chịu mổ, còn đẻ thường được thì cứ nhất quyết xin bác sĩ cho đẻ mổ. Đây chính là vấn đề quan trọng mà thai phụ cần phải đối mặt, thế nên cần lựa chọn phương pháp sinh nở nào cho tốt.

Khi sinh bằng âm đạo, tử cung co bóp tạo ra nhiều loại thay đổi có lợi cho cuộc sống độc lập của thai nhi sau sinh.

Một là, tử cung co bóp khiến não bộ của thai nhi co vào và nở ra có tính nhịp điệu và quy luật, phổi của thai nhi có thể nhanh chóng sản sinh ra một loại vật chất dạng mỡ phốt pho, khiến các lá phổi sau sinh có lực đàn hồi cao, dễ dàng nở ra, đồng thời có thể đẩy một lượng nhỏ nước ối bị hít vào trong phổi ra ngoài, điều này rất có lợi cho việc hít thở sau sinh của thai nhi.

Hai là tư thế thai nhi được sinh ra giống như khi đang bơi, đầu ngẩng và vươn khỏi nước, lúc đầu là đỉnh đầu rồi mới đến trán, mũi, miệng, cổ chui ra. Từng đợt co bóp của tử cung và các trở lực bên trong kháng lại tương ứng có thể đẩy dịch nhầy bám trong khoang miệng và mũi của trẻ ra ngoài, cũng thuận tiện vệ sinh, tránh để trẻ hít vào khi thở lần đầu.

Ba là, khi đẻ thường, đầu thai nhi chịu áp lực cấp máu, có tác dụng kích thích trong hô hấp đối, nên sau sinh do sự kích thích hô hấp này mà trẻ bật khóc.

Khi đẻ mổ, bác sĩ thường phải nhanh chóng cắt đứt cuống rốn, lượng máu lấy được từ  rốn khá ít, vì vậy sau sinh trẻ rất dễ thiếu máu và giảm cân. Thực tế chứng minh rằng, mức độ tử vong và tàn tật ở trẻ đẻ mổ cao hơn ở trẻ đẻ thường. Còn việc đầu trẻ khi đẻ thường bị dài hơn là do thai nhi thích ứng với quá trình sinh đẻ, sau khi chào đời, trong khoảng thời gian rất ngắn đầu trẻ có thể khôi phục lại như cũ, không để lại bất kì dấu vết gì.

Điều tra về sự phát triển cơ thể và trí thông minh giữa hai hình thức đẻ thường và đẻ mổ cho thấy không có sự khác biệt rõ rệt nào giữa trẻ đẻ thường và đẻ mổ.

2. Phải đẻ mổ trong tình huống nào?

Với các trường hợp bất thường dưới đây:

Xương chậu của thai phụ hẹp, đường sản bị tắc, thai nhi quá lớn hoặc vị trí thai không đúng, quãng đường sinh quá dài hoặc cổ tử cung không mở to, đánh giá khả năng sinh qua âm đạo quả thực khó khăn. Trước khi đẻ có ra nhiều máu, bao gồm đế cuống rốn, nhau thai tách ra sớm. Để đảm bảo an toàn tính mạng của sản phụ, bắt buộc phải tiến hành đẻ mổ.

Tình trạng thai nhi không tốt. Đẻ mổ có nhiều bất lợi: ra máu nhiều, dễ bị viêm nhiễm, sức khỏe sản phụ sau phẫu thuật hồi phục chậm, sau này dễ bị dính ruột. Hơn nữa, trên tử cung sẽ để lại dấu vết,nếu sau khi đẻ đứa đầu mà bị vỡ kế hoạch ngay thì lần có bầu sau khi đẻ rất có khả năng xảy ra nguy cơ rách tử cung. Do vậy, ngoài trường hợp đặc biệt ra, sinh thường vẫn tốt hơn. Do vậy, ngoài trường hợp đặc biệt ra, sinh thường vẫn tốt hơn.

49 views

Leave a Comment